Nền tảng vững chắc cho yêu cầu đổi mới giáo dục

UNETEDU - Một mô hình mới lấy người học làm trung tâm, mọi hoạt động dạy - học đều tập trung theo nhóm, nhờ vậy đã giúp các em phát huy kỹ năng và tự tin hơn...

Đó là hình thức GD đang được triển khai ở Việt Nam và chính là nền tảng để phục vụ cho yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện mà toàn ngành đang triển khai - Cô Đặng Thị Mai, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Văn Tám (xã Diên Bình – huyện Đắk Tô– Kon Tum) nhận xét..

Những chuyển đổi tích cực chỉ sau thời gian ngắn

Trường Tiểu học Lê Văn Tám là một trong ít trường tiểu học ở Kon Tum được chọn triển khai thí điểm Mô hình Trường học mới (VNEN), bắt đầu từ năm học 2011-2012 (cũng là năm Bộ GD&ĐT bắt đầu triển khai thí điểm Mô hình VNEN tại 24 trường học thuộc 12 huyện ở 6 tỉnh gồm Hà Giang, Lào Cai, Hoà Bình, Khánh Hoà, Kon Tum và Đắk Lắk).

Cô Đặng Thị Mai nhớ lại: Điểm nổi bật của VNEN chính là sự đổi mới các hoạt động sư phạm, hệ thống các tài liệu dạy và đổi mới phương pháp học, cách đánh giá HS. Thời gian đầu, ngay cả giáo viên cũng bỡ ngỡ trước một cách học rất mới:

HS không ngồi theo từng dãy bàn ghế như một lớp học truyền thống mà chia theo từng nhóm. Lớp không học theo chương trình SGK thông thường mà có tài liệu học tập “3 trong 1” dành cho cả giáo viên (GV), HS và phụ huynh, với tài liệu này HS có thể rèn thói quen tự học, tự đánh giá, tự quản lý thời gian, tự thực hành và ứng dụng.

“Có một điều khá thú vị là phụ huynh có thể đến… dự giờ với lớp bất cứ lúc nào. Tất cả những thay đổi này, sau một thời gian, chúng tôi nhanh chóng nhận thấy đã giúp tăng tính tương tác giữa GV - HS, HS - HS, nhà trường và gia đình, điều mà từ rất lâu chúng ta tìm cách thực hiện mà chưa được”, cô Đặng Thị Mai nhận xét.

Còn theo cô Vũ Thị Vân – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Triệu Thị Trinh – TP Kon Tum, nơi có gần 95% HS dân tộc thiểu số: “Thực hiện dạy học theo Mô hình VNEN so với chương trình hiện hành có rất nhiều ưu điểm. Thứ nhất, tài liệu 3 trong 1 rất thuận tiện cho GV và HS thực hiện.

Mô hình này tạo hứng thú và trải nghiệm, tìm tòi, khám phá và phân tích sau đó củng cố cho nên HS được rèn kỹ năng nổi trội hơn, tức là các em tự tin hơn và có nhiều sáng tạo hơn trong khi làm việc và đặc biệt những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác với các bạn, kỹ năng tự đánh giá và kỹ năng đánh của HS các em được phát triển rất là tốt”.

Trò chuyện cùng HS, có thể nhận thấy những biến chuyển rất rõ rệt ở những HS dân tộc thiểu số vốn nhút nhát, rụt rè, nhưng sau khi học theo mô hình này các em đã thể mạnh dạn giới thiệu về bản thân và gia đình trước mặt người mới gặp, có thể chỉ được nhà của mình và các bạn trong lớp theo sơ đồ cộng đồng; quan trọng hơn là đã làm quen được với kỹ năng hoạt động nhóm.

Ở góc “Điều em muốn nói”, một số em đã viết giấy góp ý không thích cách dạy của cô vì cô dạy nhanh quá...

Tự học theo nhóm đã trở thành kỹ năng quen thuộc của HS các lớp tham gia Dự án VNEN tại Trường Tiểu học Lê Văn Tám (huyện Đắk Tô – Kon Tum).

Nếu như HS vùng dân tộc thiểu số vẫn gặp những khó khăn khi học tập với ngôn ngữ thứ 2, nhưng ở một chương trình mở và mới như VNEN, thì HS các trường đã lại tiếp cận khá nhanh.

Thầy Trần Ngọc Tuất - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Văn Tám- thị trấn Đắk Hà – huyện Đắk Hà, cho biết, do không vướng những khó khăn về ngôn ngữ nên chỉ một thời gian ngắn các em hòa nhập được với môi trường GD mới, làm quen được với phương pháp học.

“Hầu hết các em tự tin hơn khi được trao đổi cùng bạn bè trong giờ học và học tập hứng thú hơn” - thầy Tuất nói.

Còn đó những khó khăn

Sau hơn bốn năm đưa vào thực hiện, tính hiệu quả của một mô hình GD mới đã được khẳng định với những kết quả nhanh chóng và tích cực mà chúng ta đã nhìn thấy ở trên.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, chỉ nói riêng ở Kon Tum, không ít trường vẫn gặp không ít khó khăn khi thực hiện theo Mô hình VNEN, trong đó chủ yếu đến từ hạn chế của hệ thống cơ sở vật chất.

Thầy Nguyễn Thuận - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ngô Quyền cho biết, hiện nhà trường có 9 lớp theo dự án với 286 HS. “Việc vận dụng Mô hình VNEN vào tổ chức học cho HS tự học đã có chuyển biến rõ nét về chất lượng dạy và học.

Tuy nhiên, nhà trường vẫn còn gặp không ít khó khăn, trở ngại khi vận dụng mô hình này đó là bàn ghế HS một số lớp vẫn chưa đạt chuẩn, không gian lớp học hẹp, không đủ chỗ xây dựng góc học tập...

Hơn thế, có lớp sĩ số HS còn đông nên khó thiết kế các hoạt động nhóm theo đúng yêu cầu...”.

Ngoài những vấn đề nêu trên, cô Đặng Thị Mai - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Văn Tám (huyện Đắk Tô) cũng kể ra không ít khó khăn như:

Các ứng dụng công nghệ chưa có theo yêu cầu của dự án, phiếu học tập, đồ dùng dạy học còn thiếu; dù liên tục được trang bị thêm thì cái mới chưa đến cái cũ đã hỏng hoặc xuống cấp hoặc hư hỏng.

“Nhưng không vì thiếu cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học mà nhà trường cắt bỏ chương trình. Ngay từ khi triển khai, nhà trường đã thực hiện dự án với quyết tâm rất lớn, vì thế trước mắt vẫn động viên, phụ huynh đóng góp công sức để tiếp tục giảng dạy mô hình mới này” - cô Mai khẳng định.

Đồng thời cũng theo cô, khi GV, HS và phụ huynh đã quen với mô hình GD mới này, cộng thêm sự thay đổi trong cách đánh giá HS tiểu học theo Thông tư 30 của Bộ GD&ĐT, vô hình trung đã tạo nên nền tảng vững chắc yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, trong đó có việc thay sách giáo khoa tiểu học (dự kiến) vào năm 2017.

Theo GĐ&TĐ

Bài viết khác